KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC E.M TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI TỈNH BẠC LIÊU.

Th.s ĐỖ MẠNH THƯỜNG

  • I. Một số thông tin sơ lược về chế phẩm E.M.

      Chế phẩm sinh học E.M ( Effective Microorganisms – Vi sinh vật hữu hiệu ) là một quần thể các VSV có lợi sống cộng sinh với nhau gồm có 5 nhóm:

    • 1. Nhóm Vi khuẩn quang hợp (Phototrophic bacteria)
    • 2. Nhóm vi khuẩn lên men lactic ( Lactic acid bacteria )
    • 3. Nhóm nấm men (Yeasts)
    • 4. Nhóm xạ khuẩn ( Actinomycetes)
    • 5. Nhóm nấm mốc ( Fermenting fungi).

      Chế phẩm sinh học E.M do Giao sư Tiến sĩ Teruo Higa người Nhật bản phát minh năm 1980. Từ đó đến nay, chế phẩm này được sử dụng như một gỉai pháp kỹ thuật trong phát triển nền nông nghiệp xanh, sạch, bền vững của các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt các quốc gia trong mạng lưới nông nghiệp tự nhiên Châu á – Thái bình dương ( Asia-pacific natural agriculture network – APNAN ) đã ứng dụng giải quyết nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường đối với chất thải hữu cơ, nước thải ở các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp.

      Năm 1997, chế phẩm sinh học E.M được nhập vào VN thông qua Tổ chức Hội hữu nghị Việt – Nhật. Ngay lập tức chế phẩm này đã được giao cho một số Viện,Trường nghiên cứu, thử nghiệm như Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội và một số Viện khoa học khác …tập trung nghiên cứu và theo dõi những ảnh hưởng của E.M trên một số đối tượng lúa, hoa màu, cây ăn trái với các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng, năng suất, chất lượng và khả năng phòng trừ bệnh. Bên cạnh đó Chế phẩm sinh học E.M cũng được thử nghiệm trên lĩnh vực xử lý ô nhiễm môi trường chăn nuôi G/s, g/c, bãi rác thải tập trung … kết quả nghiên cứu rất khả quan, hầu hết các nhóm đối tượng được thử nghiệm đều cho năng suất tăng 15 – 20%, và vấn đề xử lý môi trường cũng cho nhiều kết quả khả quan.

  • II. Những khám phá mới và ứng dụng E.M ở Bạc Liêu.

      Năm 1999, chế phẩm sinh học E.M lần đầu tiên được Sở Khoa học, Công nghệ tỉnh Bạc Liêu chuyển giao từ Trung tâm Nghiên cứu Vi sinh trường Đại học quốc gia Hà Nội. Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học, công nghệ tỉnh Bạc Liêu ( đơn vị trực thuộc Sở KHCN ) đã tiếp nhận công nghệ này và bắt đầu nghiên cứu thử nghiệm thăm dò trên một số đối tượng vật nuôi cây trồng trên địa bàn tỉnh.

      Từ một nhóm giống gốcVSV được chuyển giao, Trung tâm đã áp dụng các kỹ thuật của phòng thí nghiệm để phân lập, nuôi cấy, phục tráng và tồn trữ giống VSV trong điều kiện môi trường đặc chủng, đảm bảo được họat lực và độ thuần khiết của các dòng VSV, từ đó nhân rộng ra các chủng F1; F2; F3…cung cấp đủ số lượng cho việc nghiên cứu, thử nghiệm, khảo nghiệm trong các lĩnh vực khác nhau trên vật nuôi, cây trồng và xử lý môi trường.

      Năm 2000, Sở KHCN đã giao cho Trung tâm thực hiện đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học E.M trên cây trồng, vật nuôi và xử lý ô nhiễm môi trường, với nghiệm thức và đối tượng áp dụng như sau:

    • + Đối với cây trồng: Pha lõang E.M3 với nước sạch, Phun xịt trực tiếp lên cây, lá và làm ẩm đất để khảo sát một số chỉ tiêu về tăng trưởng, phát triển và khả năng kháng bệnh trên rau màu ( cà chua, ớt, hẹ và hành củ ). Kết quả đạt được: Năng suất sản phẩm tăng 15 – 25%, hạn chế được các lọai bệnh nấm và sâu bọ, tạo ra sản phẩm sạch.
    • + Đối với chăn nuôi ( heo, gà, vịt ): Sử dụng chế phẩm sinh học E.M phun, xịt trực tiếp lên chất độn nền chuồng, đồng thời trộn dd E.M tỷ lệ 5‰ vào khẩu phần ăn cho g/s, g/c .Kết quả: Năng suất thịt, trứng đều tăng. G/s, g/c không bị các bệnh đường tiêu hóa, đồng thời giảm được 80% mùi hôi của phân, nước tiểu và chất độn chuồng.

      Đề tài trên đã được Hội đồng Khoa học nghiệm thu đánh giá đạt lọai khá và cho phép tiếp tục triển khai nhân rộng trên địa bàn.

      Từ những kết quả có được về khả năng phân hủy mạnh mẽ các hợp chất hữu cơ, làm mất mùi hôi của chất thải và nước thải, và đặc biệt chế phẩm sinh học E.M hòan tòan an tòan, không có tính độc hại đối với con người và môi sinh. Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN tỉnh đã mạnh dạn chuyển hướng tiếp tục thử nghiệm ứng dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đây là lĩnh vực hòan tòan mới mẻ chưa có nơi nào áp dụng. Thí nghiệm được tiến hành trên ao nuôi cá của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh ( vị trí ao ở bên trong bến xe Bạc Liêu ), với diện tích ao 3000m2, mật độ 7 – 10con/m2. Trong quá trình nuôi, nước ao bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ do mưa chảy tràn bờ và do con người tác động, hầu hết cá bị nổi đầu vì thiếu ô xy và bị bệnh dịch. Sau khi lấy mẫu nước phân tích, chúng tôi đã tiến hành xử lý nước ao bằng chế phẩm E.M với nồng độ 5 – 10 ppm, và mỗi ngày xử lý 01 lần. Kết quả thật bất ngờ, chỉ 3 ngày sau xử lý. Chất lượng nước ao được cải thiện đáng kể, nồng độ các chất gây ô nhiễm đã ổn định ở mức cho phép, cá nuôi dần dần được phục hồi, tỷ lệ hao hụt giảm. Kết hợp trong xử lý nước định kỳ, chúng tôi có khuyến cáo trộn thêm dd E.M trong khẩu phần thức ăn cho cá ăn, điều này sẽ làm cá hấp thu thức ăn tốt hơn, giảm bệnh đường ruột và chất bài thải từ cá ra môi trường ngoài, giảm được nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.

      Qua lần thử nghiệm đầu tiên của chế phẩm sinh học E.M trên cá nuôi, có được một số kết quả và kinh nghiệm ban đầu. Năm 2001, chúng tôi đề nghị Sở KHCN tiếp tục cho phép tiến hành áp dụng thử nghiệm trong nuôi tôm với đối tượng là ương, nuôi tôm sú giống và tôm thịt, với mật độ nuôi khác nhau; các chỉ tiêu theo dõi, khảo sát và đánh gía là: chất lượng nước; độ sạch hữu cơ ở đáy ao; những diễn biến về độ tăng trưởng; chỉ số sử dụng thức ăn và khả năng sức đề kháng chống đỡ dịch bệnh qua từng thời kỳ của chu kỳ nuôi… Đây là cuộc thử nghiệm với tính cách thăm dò (vì trước đó vẫn chưa có đơn vị nào tiến hành áp dụng thử nghiệm trên tôm và cá ) nếu thử nghiệm thành công nó sẽ là bước đột phá mới để từng bước hạn chế thấp nhất việc sử dụng hóa chất và sẽ thay thế dần vào đó cơ chế sử dụng chế phẩm sinh học để lấy lại sự cân bằng sinh thái góp phần tạo nên sự phát triển bền vững trong nuôi trồng thủy sản sau này.

      Với mục tiêu như trên, từ năm 2001. Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KHCN đã không ngừng nghiên cứu thử nghiệm, khảo nghiệm chế phẩm sinh học E.M trên nhiều phương diện và lĩnh vực sản xuất và đời sống; từ xử lý ô nhiễm môi trường nước thải, rác thải, vệ sinh trong chăn nuôi, phân hủy mạnh các chất hữu cơ, chống tắc nghẽn hầm cầu tự hoại, làm tăng năng xuất chất lượng cho vật nuôi và cây trồng đến việc ứng dụng chế phẩm sinh học này trong nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp đã thu được nhiều kết quả khả quan. Chỉ riêng trong lĩnh vực nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp, chế phẩm sinh học E.M đã có những đóng góp đáng kể:

      Năm 2001, chúng tôi tiến hành thử nghiệm chế phẩm sinh học E.M trên ao nuôi tôm công nghiệp với một số chỉ tiêu kỹ thuật và kết quả đạt được như sau:

    • Diện tích ao là: 6000m2
    • Mật độ nuôi: 20 con/m2 = 120.000 con
    • Công thức sử dụng E.M: Nồng độ E.M xử lý: 5 -10 ppm (5 – 10lítE.M/1000m3), định kỳ 7 -10 ngày xử lý /lần. Ngoài ra còn trộn E.M vào thức ăn hàng ngày cho tôm với tỷ lệ 10ml/kgTĂ.
    • Thời gian nuôi 4 tháng.
    • Sản lượng thu hoach: 1800kg
    • Tỷ lệ sống: 72.000 con = 60%
    • Trọng lượng bình quân: 40con/kg
    • Năng suất: 3 tấn/ha/vụ.
    • Giá sản phẩm (BQ) tại thời điểm: 1800kg x 135.000đ/kg = 243.000.000 đồng ( trừ chi phí: Giống, thức ăn, hóa chất xử lý ban đầu, công lao động...).
    • Lãi xuất. 145.000.000đồng.

      Năm 2002, chúng tôi tiến hành thử nghiệm giống như đã bố trí ở trên nhưng có một vài thay đổi nhỏ để thăm dò tính ổn định của sản phẩm thử nghiệm, đó là: giảm diện tích ao nuôi, tăng mật độ nuôi, giữ nguyên nồng độ E.M xử lý).

    • Với: Diện tích ao nuôi: 3000m2
    • Mật độ nuôi: 25 con/m2 = 75.000 con
    • Thời gian nuôi: 4,5 tháng
    • Thu hoạch: 1.714kg
    • Tỷ lệ sống (đến thu hoạch ): 60.000 con = 80%.
    • Trọng lượng bình quân: 35 con/kg
    • Năng suất: 5.713 tấn/ha/vụ.
    • Giá sản phẩm BQ lúc thu hoạch: 1.714kg x 140.000đồng/kg = 239.960.000.
    • Trừ chi phí : lãi 143.976.000 đống.

    Năm 2003, tương tự như trên, nhưng mật độ được bố trí tăng thêm như sau:

    • Diện tích ao nuôi: 3000m
    • Mật độ: 30 con/m2 = 90.000 con
    • Thời gian nuôi: 4,5 tháng
    • Thời gian nuôi: 4,5 tháng
    • Sản lượng thu hoạch: 1894kg
    • Tỷ lệ sống đến thu hoạch:72.000 con, đạt 80%.
    • Trọng lượng bình quân: 38 con/kg.
    • Năng suất: 6.3 tấn/ha/vụ.
    • Giá sản phẩm tôm thu hoạch (tính bình quân ).1.894 kg x 120.000 đ/kg = 227.250.000đồng.
    • Lãi xuất: 136.000.000đồng.

      Như vậy, qua ba năm liên tục thử nghiệm chế phẩm sinh học E.M trong nuôi tôm sú công nghiệp. Chúng tôi có một số nhận xét và kết luận sau:

    • 1. Chế phẩm sinh học E.M là một sản phẩm rất hữu ích trong sản xuất và đời sống do bản chất của chúng có nguồn gốc từ những VSV có lợi được con người biết đến và sử dụng cho mục đích nhu cầu của mình từ lâu. Chế phẩm E.M hoàn toàn không độc tố, không chứa hoá chất độc hại. Rất an toàn cho con người và môi sinh.
    • 2. Khi sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt trong nuôi tôm, cá công nghiệp:
      • - Chế phẩm sinh học E.M đã tham gia trực tiếp vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng nước, làm sạch các chất mùn bã hữu cơ ở đáy ao do các sản phẩm thải của tôm và lượng thức ăn dư thừa...nhờ cơ chế phân hủy mạnh các hợp chất hữu cơ đồng thời triệt tiêu hoàn toàn các khí độc NH3; H2S, NO2...của các nhóm VSV hiếu khí và kỵ khí có trong E.M.
      • - Quản lý tốt màu nước nhờ khống chế mật độ tảo, giữ ổn định độ pH.
      • - Tăng khả năng tiêu hóa, hạn chế được các bệnh đường ruột ( bệnh phân trắng).
      • - Tôm lột xác đồng đều, vỏ tôm sạch có độ bóng láng do tôm luôn khỏe mạnh, vận động nhiều, không bị bám rong.
    • 3. Quá trình xử lý E.M định kỳ đã làm môi trường luôn sạch, tăng khả năng tạo sức đề kháng cho tôm, giảm được yếu tố Stress và dịch bệnh do thay đổi thời tiết.
      • - Tăng tỷ lệ tôm sống cao hơn so đối chứng.
      • - Tăng năng suất, chất lượng và độ đồng đều được nâng cao, khắc phục tình trạng rủi ro trong đầu tư .
      • - Tăng mức thu nhập trên cùng môt đơn vị diện tích đầu tư do hạn chế sử dụng lượng kháng sinh và hóa chất.
  • III. Sự tạo thành sản phẩm và nhu cầu thị trường.

      Từ những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm được ứng dụng thành công khá hiệu quả trên một số lĩnh vực như đã đề cập ở trên. Trung tâm đã tiến hành sản xuất một số sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ chế phẩm sinh học E.M ban đầu để cung cấp kịp thời theo nhu cầu thị trường người tiêu dùng.

      Ngày nay chế phẩm sinh học E.M do Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KHCN tỉnh Bạc Liêu sản xuất đã cung cấp cho thị trường 6 lọai sản phẩm, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Những sản phẩm sinh học này đã được nhiều người trong và ngoài tỉnh ưa chuộng, tin dùng với những cái tên như:

    • 1.Chế phẩm sinh học EMS: Sản phẩm ở dạng nước chuyên dùng cho tôm, cá.
    • 2.Chế phẩ sinh học ESH6: Sản phẩm dạng bột, dùng cho tôm, cá.
    • 3. Chế phẩm sinh học E.MA: Sản phẩm ở dạng nước, chuyên dùng cho heo, gà, vịt ( xử lý ô nhiễm môi trường, hạn chế đựợc mùi hôi của phân và chất độn chuồng, phòng chống một số bệnh được ruột).
    • 4.Chế phẩm sinh học E.M.BOKASHI: Sản phẩm dạng bột dùng để xử lý hầm cầu tự hoại ( làm thông thoáng hầm, giảm mùi hôi ), phục vụ cho mọi nhà.
    • 5. Chế phẩm sinh học E.CUL5: Sản phẩm dạng dung dịch dùng để phun tưới cho cây trồng và hoa trái.
    • 6. Chế phẩm sinh học EM3: Sản phẩm chuyên dùng cho xử lý nước thải và rác thải.

      Liên tục trong những năm qua, Trung tâm đã ký hợp đồng sản xuất chế phẩm sinh học E.M ở số lượng lớn, cung cấp cho các tỉnh ngoài như: Nha Trang, Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), An giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau… Các sản phẩm trên chủ yếu dùng trong lĩnh vực nuôi tôm, cá công nghiệp và xử lý ô nhiễm môi trường ( Rác thải, nước thãi ).

      Điều đáng nói là: Trong đợt phát động và hưởng ứng Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Bạc Liêu được tổ chức lần đầu tiên năm 2005, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KHCN đã tham gia dự thi và đạt giải nhất với sản phẩm sáng tạo CHẾ PHẨM SINH HỌC E.M phục vụ thiết thực cho SX và bảo vệ môi trường.

      Ngày nay, sự có mặt các sản phẩm sinh học E.M của Trung tâm trên khắp thị trường trong và ngòai tỉnh và được mọi người tin dùng là một minh chứng cho chất lượng sản phẩm đạt hiệu quả và uy tín, là kết quả của quá trình họat động nghiên cứu, ứng dụng KHKT một cách nghiêm túc của tòan thể CBNV Trung tâm, đã góp phần thiết thực vào phục vụ phát triển sản xuất và đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh.

Back to Top