MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN TÔM, CÁ

  • I. BỆNH ĐẦU VÀNG (Yellow head disease)

      Bệnh đầu vàng xuất hiện trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm rảo, tôm rằn và nhiều loại tôm khác tại Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ... Ở Việt Nam, tôm nhiễm bệnh đầu vàng nhiều lúc thời tiết thay đổi lúc giao mùa, ở những vùng nuôi ven biển độ mặn cao.

    • Description: yhv1a. Triệu chứng:
      • - Tôm ăn nhiều khác thường trong vài ngày, rồi bỏ ăn đột ngột. Sau đó 1-2 ngày tôm bơi lờ đờ không định hướng trên mặt nước hoặc ven bờ, bám vào bờ.
      • - Phần đầu ngực, gan, tụy chuyển màu vàng, gan có thể có màu trắng nhạt, vàng nhạt hoặc nâu
      • - Thân tôm có màu nhợt nhạt
      • - Tôm chết rải rác trong vó rồi chết với mức độ tăng dần
      • - Tôm chết rất nhanh trong vòng 3-5 ngày (có thể chết gần 100%) sau khi xuất hiện các triệu chứng.
      • - Bệnh nặng thêm và gây chết nhanh khi tôm vừa có dấu hiệu nhiễm bệnh đầu vàng vừa có bệnh đốm trắng.
    • b. Phương pháp chẩn đoán bệnh:
      • - Nhận biết triệu chứng bệnh.
      • - Nhuộm màu mô bào, tế bào máu nhận thấy nhân tế bào bị thoái hóa đông đặc.
      • - Phân tích PCR.
    • c. Nguyên nhân:
      • - Bệnh do virus YHV (yellow head virus) là virus có acid nhân RNA chuỗi đơn, hình que, kích thước 44 x 173 nm, thuộc loài Nidovirales, họ Ronaviridae, chi Okavirus.
    • d. Lây truyền bệnh:
      • - Chủ yếu lây truyền theo hàng ngang, do có vật chủ trung gian mang mầm bệnh vào môi trường nước.
    • e. Phòng và trị bệnh:
      • - Bệnh đầu vàng chưa có thuốc chữa.
      • - Phòng ngừa và ngăn chặn bằng cách chọn tôm giống sạch bệnh (qua kiểm tra PCR), diệt khuẩn và diệt vật chủ mang mầm bệnh trong ao và nước.
      • - Không nuôi mật độ quá cao.
      • - Luôn cung cấp đủ oxy cho ao nuôi.
      • - Giữ môi trường ổn định.
  • II. BỆNH PHÁT SÁNG

      Bệnh phát sáng xuất hiện quanh năm trên các loài tôm sú, thẻ, càng xanh... Bệnh có thể xảy ra trong tất cả các giai đoạn ương nuôi từ trứng đến tôm trưởng thành. Bệnh phát triển mạnh trong môi trường nước giàu dinh dưỡng, nhiều chất hữu cơ ở độ mặn cao, thiếu oxy hòa tan, lây lan nhanh trong mùa nóng.

    • a. Nguyên nhân:
      • - Nhiễm vi khuẩn thuộc nhóm Luminescencet Vibrio: chủ yếu và gây nguy hiểm nhất là Vibrio harveyi. Các vi khuẩn này có enzyme Luciferase gây ra sự phát sáng.
      • - Là vi khuẩn gram âm G, phát triển nhanh ở độ mặn 10-40ppt (mạnh nhất ở độ mặn 20-30 ppt).
      • - Các vi khuẩn này có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh.
      • - Bệnh có thể nhiễm từ các trại giống, ao ương sang ao thịt. Trong sản xuất giống, mầm bệnh được lây lan chủ yếu bằng đường ruột từ tôm mẹ sang ấu trùng trong giai đoạn sinh sản.
    • b. Triệu chứng:
      • - Tôm yếu, bơi không định hướng, tấp mé bờ, phản ứng chậm chạp
      • - Mang và thân tôm có màu sẫm, bẩn, thịt đục màu. Gan viêm và teo nhỏ, mất chức năng tiêu hóa cho tôm.
      • - Ăn giảm, không có thức ăn và phân trong ruột, phân tôm trong nhá ít.
      • - Đầu, thân tôm phát sáng màu trắng - xanh lục trong bóng tối.
      • - Quan sát bằng kính hiển vi thấy vi khuẩn phát sáng di chuyển trong cơ, máu tôm.
      • - Có đốm sáng rất nhỏ và nhiều trên phần cơ thịt của tôm
      • - Tôm chậm lớn, có thể bị đóng rong ở mang và vỏ.
      • - Tôm chết đáy rải rác tuỳ vào mức độ nặng nhẹ của bệnh. Nếu nhiễm bệnh 100% đàn tôm trong giai đoạn 45 ngày nuôi đầu, có thể chết hàng loạt.
      • - Tôm ấu trùng nhiễm bệnh có màu trắng đục, nhiễm bệnh nạng thì lắng dưới đáy bể ương và chết hàng loạt.
    • c. Phương pháp chẩn đoán bệnh:
      • - Nhận biết triệu chứng bệnh.
      • - Thử nghiệm bằng TCBS Agar test kit (dùng môi trường thiosulfate citrate bile sucrose agar) để phát hiện vi khuẩn.
    • d. Phòng ngừa và xử lý bệnh
      • d.1. Trại giống
        • - Vệ sinh kỹ lưỡng bình ấp trứng, bể ương.
        • - Thường xuyên sát trùng dụng cụ.
        • - Xử lý nguồn nước bằng UV, chlorine, ozone
        • - Xử lý trứng artemia bằng chlorine
      • d.2. Tôm giống
        • - Chọn tôm bố mẹ khỏe, sạch bệnh.
        • - Kiểm tra bằng PCR
        • - Kiểm tra sự căng thẳng và sức khỏe của giống, loại tôm yếu bằng formol,
        • - Thả nuôi với mật độ thả phù hợp
      • d.3. Ao nuôi
        • - Trước vụ nuôi phải cải tạo ao: nạo vét sạch bùn đáy, bón vôi, phơi ao
        • - Diệt khuẩn trong ao và nước bằng Chlorine 30ppm hoặc B.K.C 1-2ppm hoặc thuốc tím KMnO4 2-3ppm
        • - Diệt các vật chủ trung gian, hạn chế cua, còng, ốc trong ao. Vớt hết tôm chết ra khỏi ao.
        • - Dùng men vi sinh để cải tạo đáy ao và xử lý nước hằng ngày trước khi thả tôm 7 ngày.
      • d.4. Phòng bệnh:
        • d.4.1. Độ mặn:
          • - Không nuôi tôm ở độ mặn quá cao. Hạ độ mặn để ức chế vi khuẩn phát sáng.
          • - Nhiệt độ nước: Vào mùa hè, duy trì mức nước trong ao nuôi từ 1,2 – 1,5m và độ trong của nước từ 30 – 40cm để hạn chế khả năng tăng nhiệt.
        • d.4.2. Giữ môi trường ổn định:
          • - Kiểm tra chất lượng nước (pH, kH, độ đục, màu sắc, tảo) và đáy ao thường xuyên để xử lý kịp thời.
          • - Tăng cường chạy sục khí.
          • - Sử dụng men vi sinh, đường cát, định kỳ.
          • - Theo Việt Linh, cần giữ môi trường ổn định không để tảo tàn đồng loạt làm mất màu nước và bùn đáy. Phát triển nhóm tảo lục (chlorella) để khống chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio harveyi.
        • d.4.3. Giảm chất hữu cơ trong nước:
          • - Kiểm tra sàng ăn hàng ngày, điều chỉnh thức ăn hợp lý, không để thừa thức ăn làm ô nhiễm nước và đáy ao.
          • - Định kỳ thay nước, xiphông đáy, hút bùn, để giảm bớt chất hữu cơ trong ao.
        • d.4.4. Chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho tôm:
          • - Bổ sung vitamin C, đa vitamin, men tiêu hóa và khoáng vi lượng vào thức ăn để tạo kháng thể, giúp tôm có sức đề kháng, giảm căng thẳng cho tôm nhất là khi có thay đổi môi trường nước hoặc biến động thời tiết.
          • - Từ khi tôm được 21 ngày tuổi, định kỳ kiểm tra vibrio trong nước và tôm 7 ngày/lần. Vibrio trong nước phải ít hơn 102 tế bào/cc và không có vi khuẩn này trong gan tôm.
      • d.5. Xử lý khi tôm nhiễm bệnh
        • - Dùng thuốc kháng sinh: dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian. Việc sử dụng kháng sinh chỉ có kết quả khi phát hiện bệnh sớm.
        • - Bổ sung đa vitamin (ABV – Vitamulti) và men tiêu hóa ABV – Subtilic vào thức ăn.
        • - Diệt khuẩn nước trong ao và khử trùng dụng cụ, thiết bị.
  • III. BỆNH TÔM BỊ RỤNG RÂU, PHỒNG ĐUÔI ĐỐM ĐEN, ĐỐM NÂU

    Nguyên nhân: là do các vi khuẩn Vibrio, Aeromonas, Pseudomonas...gây bệnh có trong hồ nuôi tôm.

    • 3.1. Bệnh đóng rong trên tôm

        Đóng rong là một bệnh chủ yếu do môi trường tạo ra trong đó các tác nhân chính là tảo, nấm, động vật nguyên sinh và vi khuẩn tác động lên nhau tạo thành bệnh.
        Theo Lightner, bệnh đóng rong xuất phát từ những Protozoe sống tự do trong ao hoặc trong bể nuôi, bọn này sống lơ lửng hoặc sống dưới đáy ao.
        Bệnh đóng rong trên tôm có mặt ở khắp nơi trên thế giới.
        Trong quá trình nghiên cứu tại ba vùng khác nhau, chúng tôi nhận thấy, toàn bộ các ao nuôi đều có xuất hiện bệnh đóng rong. Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện từng ao mà bệnh xuất hiện sớm hay muộn.
        Bệnh đóng rong xuất hiện từ giai đoạn tôm giống đến tôm trưởng thành, đặc biệt là vào những tháng cuối của vụ nuôi.

      • Đặc trưng của mầm bệnh:
        • - Phần lớn do một số vi khuẩn gây ra như: Vibrio sp., Aeromonas sp., ... Do một số tảo lam: Spirulina subsalsa, Schizthrix calcicola; Tảo lục: Enteromorpha sp.; Tảo khuê: Amphora sp., Nitszchia sp., loài nấm và nguyên sinh động vật.
        • - Theo Lightner, bệnh này xuất hiện do ký sinh trùng, tảo, vi khuẩn ... tấn công từ bên ngoài vào.
        • - Bệnh đóng rong rất dễ nhận biết, toàn thân bị dơ, tập trung ở phần đầu ngực hay toàn thân, mang và các phụ bộ. Tôm bị bệnh này rất yếu, bỏ ăn, ít di chuyển và cặp mé bờ, đồng thời mang thường bị tổn thương hoặc biến đổi màu sắc.
      • Biện pháp phòng trị:
        • - Phòng bệnh bằng cách quản lý chất lượng nước ao tốt, ổn định tảo trong ao và luôn đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm.
        • - Tăng cường thay nước nhằm cải thiện môi trường đồng thời kích thích cho tôm lột. Nếu tỷ lệ nhiễm cao, chúng ta có thể dùng formol liều lượng từ 15-20ppm đánh vào ban ngày sau đó thay nước, nếu đóng rong vẫn còn ta có thể đánh tiếp lần hai.
    • 3.2. Bệnh đen mang

        Bệnh đen mang là bệnh thường gặp ở tôm nuôi trong các ao nuôi có môi trường không tốt, mật độ nuôi dày.

      • Triệu chứng:
        • - Mang và vùng mô nối mang với thân tôm có màu nâu hoặc đen. Khi nhiễm nặng các phụ bộ, chân và đuôi cũng bị đen.
        • - Tôm nổi đầu do thiếu oxy, bơi lờ đờ trên mặt nước, dạt vào bờ.
        • - Tôm giảm ăn, chậm lớn và chết khi có thêm các tác nhân khác.
        • - Mang tôm bị vi khuẩn, nấm hoặc nguyên sinh động vật ký sinh phá hủy khi bệnh nặng.
      • Nguyên nhân:
        • - Do ao bị ô nhiễm:
            +Trong ao có nhiều chất ô nhiễm hữu cơ do thức ăn dư thừa, tảo tàn.
            + Đáy ao có nhiều mùn bã hữu cơ, hàm lượng nitrit, nitrat, và các khí độc amonia, H2S cao
            + Các chất lơ lửng trong nước bám vào mang tôm làm mang có màu vàng, nâu đen.
        • - Do tôm bị đóng rong trên mang và vỏ:
            + Mang và vỏ tôm đóng rong làm các chất vẩn hữu cơ dễ bám vào và làm mang tôm chuyển màu.
        • - Do tôm nhiễm nấm Fusarium (Fusarium Disease):
            + Mang tôm bị nhiễm nấm Fusarium solani  mang tôm nhiễm sắc tố Melanin (sắc tố màu đen). Có thể thấy được sợi nấm khi soi tươi mang tôm bệnh bằng kính hiển vi. Các loài nấm thuộc giống Fusarium có trong nước ngọt, nước lợ và đất ở khắp nơi. Tất cả các loài tôm nuôi đều có thể bị nhiễm nấm. Tôm gần trưởng thành và trưởng thành thường bị nhiễm nặng. Tôm sú và tôm thẻ tương đối đề kháng được với nấm nhưng khi bệnh xảy ra rất khó điều trị.
        • - Do pH nước thấp, trong nước nếu có nhiều ion kim loại nặng (nhôm, sắt), muối của chúng kết tụ trên mang tôm làm chuyển màu đen.
      • Phòng bệnh:
        • - Tẩy dọn ao kỹ trước khi thả tôm
        • - Lắng lọc kỹ nước trước khi cấp vào ao nuôi
        • - Chọn mật độ nuôi phù hợp với tay nghề và kỹ thuật.
        • - Kiểm soát tảo trong ao, tránh tảo tàn đồng loạt (dùng đường, ABV - Benco...)
        • - Tăng cường sục khí để tăng hàm lượng oxy
        • - Tránh dư thừa thức ăn, định kì dùng men vi sinh để giảm phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ trong ao, giữ đáy ao sạch
        • - Bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn
      • Trị bệnh:
        • - Nếu bệnh phát sinh do môi trường ô nhiễm: Thay nước đáy hoặc xiphong đáy, đánh zeolite, dùng chế phẩm ABV - yucca, men vi sinh ABV – Envi clear 500, bổ dung vitamin C vào thức ăn.
        • - Nếu bệnh phát sinh do nhiễm khuẩn: Diệt khuẩn nước bằng ABV - Benco, ABV - iodino 90, v.v... thay nước đáy, dùng men vi sinh xử lý đáy ao, bổ sung vitamin C và ABV – Vitamulti vào thức ăn.
        • Chú ý: nếu dùng chất diệt khuẩn thì sau 3 ngày mới đánh men vi sinh.
          Trường hợp khẩn cấp, không có điều kiện thay nước: dùng vôi, zeolite để xử lý, sau đó dùng vi sinh.
  • IV. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT HỘI CHỨNG HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP TÍNH Ở TÔM NUÔI(Acute Hepstopancreatic Necrosis Syndrome - AHPNS)

      Dấu hiệu nhận biết hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) ở tôm nuôi
      Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, dịch bệnh hoại tử gan tụy trên tôm nước lợ đang diễn biến phức tạp và có nguy cơ lan rộng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nông, ngư dân. Bộ trưởng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm nghiên cứu, làm rõ các tác nhân gây bệnh. 
      Theo đó, Bộ trưởng yêu cầu Cục Thú y (Bộ NN&PTNT) phải tăng cường công tác quản lý, đánh giá và nắm chắc diễn biến dịch bệnh. Căn cứ vào tình hình dịch bệnh trong thời gian qua và kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm của các phòng xét nghiệm trong và ngoài nước, Cục Thú y đã ban hành Hướng dẫn các dấu hiệu nhận biết hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) ở tôm nuôi như sau: 

    • Loài nhiễm bệnh:
        Tôm sú (Penaeus monodon) và Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei)
    • Giai đoạn nhiễm bệnh:
        Trong suốt quá trình nuôi, tập trung nhiều ở giai đoạn từ 10 đến 45 ngày sau khi thả nuôi.
    • Triệu chứng lâm sàng:
        Ở giai đoạn đầu, triệu chứng của bệnh chưa rõ ràng. Tôm chậm lớn, lờ đờ, bỏ ăn, tấp mé và chết ở đáy ao/đầm nuôi. Ở giai đoạn tiếp theo, tôm bệnh có hiện tượng vỏ mềm, màu sắc cơ thể biến đổi, gan tụy mềm nhũn, sưng to hoặc bị teo lại. 
    • Dấu hiệu bệnh tích:
        Tổ chức gan tụy thoái hóa tiến triển cấp tính. Thiếu hoạt động phân bào đẳng nhiễm trong tế bào có nguồn gốc từ mô phôi (tế bào E: Embyonalzellen). Các tế bào trung tâm của tổ chức gan tụy (tế bào tiết B: Basenzellen, tế bào xơ F: Fibrillenzellen, tế bào dự trữ R: Restzenllen) có sự biến đổi cấu trúc và rối loạn chức năng. Các tế bào của tổ chức gan tụy có nhân lớn bất thường và có hiện tượng bong tróc tế bào biểu mô ống lượn và bị viêm nhẹ.
        Ở giai đoạn cuối của hội chứng hoại từ gan tụy cấp tính có sự tập hợp của tế bào máu ở giữa ống gan tụy và nhiễm khuẩn thứ cấp.
    • Biện pháp phòng bệnh
        Có thể áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp đối với bệnh hoại tử gan tụy trên tôm như sau: 
      • * Trong các trại sản xuất tôm giống:
          - Chọn đàn tôm mẹ sạch bệnh để ngăn cản quá trình lây nhiễm bệnh từ tôm mẹ sang tôm con.
          - Không nên nhốt chung tôm mẹ từ các nguồn khác nhau vào một dụng cụ để tránh sự lây lan mầm bệnh từ con này sang con khác. Nước và dụng cụ cần được khử trùng kỹ trước khi dùng, không nên dùng chung dụng cụ giữa các bể ấp. Không nên ương ấp mật độ quá dày. 
          - Rửa nauplius (ấu trùng tôm), hay rửa trứng bằng Formol 100 - 200ppm trong 30 giây đến 1 phút hoặc Iodine 1 - 2ppm trong 1 - 2 phút. 
          - Nguồn nước nên được sát trùng bằng các phương pháp khác nhau như: phương pháp cơ học (lọc), phương pháp hóa học (xử lý bằng thuốc sát trùng), phương pháp lí học (sát trùng bằng đèn cực tím), phương pháp sinh học, sinh thái để tiêu diệt và kìm hãm tác nhân gây bệnh. 
      • * Trong nuôi tôm thịt (tôm thương phẩm):
          - Áp dụng biện pháp sốc Formol 100 - 200ppm, trong 30 giây đến 1 phút, để lựa chọn một đàn giống khỏe, không nhiễm bệnh, hay loại bỏ bớt những con mang mầm bệnh, trước khi thả giống.
          - Tẩy ao cẩn thận trước một chu kỳ nuôi: Vét hết chất thải của đợt sản xuất trước, phơi nắng đáy ao (nếu có thể), sát trùng đáy ao bằng vôi và hóa chất để tiêu diệt mầm bệnh tồn tại ở đáy ao. Không nên nuôi tôm với mật độ quá cao. 
          - Sử dụng thức ăn không mang mầm bệnh: Các loại thức ăn tổng hợp và tự chế biến cần được bảo quản tốt, tránh mốc, vón và nhiễm khuẩn. Bởi nấm mốc trong thức ăn tổng hợp hay trong nguyên liệu để sản xuất thức ăn tổng hợp có thể sinh ra trong thức ăn viên một loại độc tố (Aflatoxin) gây hoại tử gan nghiêm trọng ở động vật thủy sản nuôi nói chung và tôm nuôi nói riêng. 
          - Có thể làm tăng hệ miễn dịch tự nhiên của tôm bằng cách quản lý môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định; đồng thời bổ sung một số sản Glucan và hạn chế dùng các hóa chất,bphẩm như vitamin C, A, E, và kháng sinh. 
          - Ngăn chặn sự có mặt của các nhân tố gây độc cho gan tụy tôm như các ion kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật...có trong nước của bể ấp và ao nuôi. Có thể dùng EDTA để tạo phức kết tủa và tách các ion kim loại nặng ra khỏi nguồn nước cần sử dụng. 
          - Khi bệnh đã xảy ra, trước khi xả bỏ tôm bệnh, cần dùng thuốc diệt khuẩn (Chlorine, formol) để sát trùng nước. 
  • V. BỆNH PHÂN TRẮNG Ở TÔM SÚ VÀ TÔM THẺ VÀ CÁCH PHÒNG, TRỊ
    • Nguyên nhân:
        Do vi khuẩn Vibrio (V.parahaemolyticus, V.anguillarum, V.vulnificus, V.damsella, V. alginolyticus) bởi các nguyên nhân sau:
      • Cải tạo đáy ao không phù hợp hoặc những loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến gan tôm như MBV và HPV.
      • Do KST Gregarine. Gregarine trong ống gan và đường ruột của tôm hoặc các vật trung gian bám trên thành ruột.
        Nếu phát hiện khi ao chỉ có vài mảnh phân nổi lên mặt nước thì có thể trị được bằng cách thay nước, diệt KST.   Nếu phát hiện quá trễ thì chữa trị không có hiệu quả nữa.
    • Phòng và trị:
      • 1/ Trường hợp bệnh nhẹ:
          - Xử lý ao nuôi bằng thuốc diệt khuẩn ( ABV – Benco; ABV – Germe ).   - Sau 3 ngày trộn chế phẩm vi sinh đường ruột (ABV- Subtilic; ABV – Mental) vào thức ăn cho ăn liên tục (tất cả các bữa ăn) cho đến trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày.   - Bổ sung thêm Vitamin C vào thức ăn.   - Thay nước hoặc bổ sung nước (đã qua xử lý) định kỳ.
      • 2/ Trường hợp bệnh nặng:
          - Xử lý ao nuôi bằng thuốc diệt khuẩn như trên.   - Trộn kháng sinh trị bệnh phân trắng vào thức ăn (ABV – Florfe 10; ABV – Doxylin) tất cả các bữa ăn, cho tôm ăn liên tục 7 ngày.   - Sau khi điều trị bằng kháng sinh, tiếp tục trộn chế phẩm vi sinh đường ruột vào thức ăn cho ăn liên tục (tất cả các bữa ăn) cho đến trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày.   - Bổ sung thêm Vitamin C vào thức ăn.   - Thay nước (đã qua xử lý) định kỳ.
      • Lưu ý:
          + Tăng cường lượng men visinh (Bacillus sp, Lactobacillus có trong sản phẩm ABV – Mental hoặc ABV - Subtilic) lên gấp đôi khoảng 10g-15g/1Kg và ABV -Beta Glucan trộn vào thức ăn cho tôm để tăng sức đề kháng, tạo miễn dịch. (xin lưu ý là lúc này thì tôm chưa bỏ ăn). Nhờ các men vi sinh này đẩy và lấn áp trứng cũng như các con Gregarine trong ruột tôm ra ngoài.   + Dùng các loại thuốc diệt khuẩn có chứa các chất như B.K.C, Iodine,  cách dùng như sau: cứ cách khoảng 2-3 ngày thì sử dụng, ngày 1 dùng thuốc có dạng B.K.C đánh vào 6 giờ sáng, ngày 2 dùng thuốc có dạng Iodine hay Formaline đánh vào chiều tối 7pm. (nếu có tôm lột vỏ thì không nên dùng thuốc B.K.C mà thay vào đó bằng cách 1 ngày Iodine, 1 ngày Formaline, theo kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy dùng cách ngày với B.K.C thì có hiệu quả hơn) chu trình này lập lại sau 2-3 ngày đến khi tôm ăn mạnh trở lại và có phân đen cứng thì bắt đầu dùng men vi sinh cho môi trường nước các dạng có Bacillus sp, Nitrosomonas, Nitrobacter.   Cách điều trị trên có công dụng rất cao đối với tôm sú bị bịnh phân trắng trong giai đọan đầu, khi mới phát hiện. Nếu tôm trong giai đoạn cuối thì sẽ dẫn đến bịnh teo gan và không phát triển được nữa. Khi chữa trị phải kiên trì cho đến lúc tôm khoẻ và ăn mạnh trở lại, sau đó cách 10 – 15 ngày diệt khuẩn định kỳ theo cách trên. Trong lúc chữa trị nếu mầu nước xấu thì dùng 6-8 bao (5kg) ABV – Mix cho 5000 m2) đánh xuống khoảng 10 sáng 2 ngày 1 lần. Nếu có thể được thì cấp nước hay thay nước 10%-20% (ngày đầu chỉ nên bơm 10cm, 1 tấc nước).
  • VI. BỆNH CONG THÂN MỀM VỎ Ở TÔM VÀ CÁCH PHÒNG, TRỊ
    • BỆNH CONG THÂN

        Tôm sú có thể nhiễm bệnh này ở mọi giai đoạn sinh trưởng. Bệnh xảy ra khi tôm bị thiếu dinh dưỡng hoặc bị sốc do môi trường bất lợi như thời tiết quá nắng nóng, tôm búng đuôi và cơ thể bị cong mà không duỗi ra được. Nếu bị nhẹ, lưng tôm thường bị gù nhưng vẫn có thể bơi lội được; nếu nặng, tôm nằm nghiêng sang một bên. Bệnh làm tôm khó lột xác, chậm tăng trọng, sức đề kháng kém.

    • BỆNH MỀM VỎ

        Bệnh mềm vỏ kinh niên ở tôm thường xảy ra trong các ao nuôi tôm thương phẩm. Biểu hiện bệnh: Sau khi lột xác vỏ tôm không cứng lại được thường bị nhăn nheo, dễ bị cảm nhiễm của các tác nhân gây bệnh. Tôm có vỏ mềm yếu hay vùi mình, dạt vào bờ.

      • Nguyên nhân gây bệnh:

          Trong thức ăn nuôi tôm thiếu chất khoáng hoặc một số vitamin (vitamin D) thúc đẩy quá trình hấp thu các chất khoáng. Cũng có thể thức ăn kém chất lượng, ôi thối hoặc cho ăn thiếu.
          Trong ao có nhiều chất độc như các khí độc sinh ra do sự phân hủy các chất hữu cơ, chất độc sinh ra do tảo độc, chất độc do nguồn nước thải công nghiệp, sinh hoạt, đặc biệt là thuốc trừ sâu trong nông nghiệp.
          Nuôi tôm trong điều kiện môi trường có nhiều biến động, gây sốc làm rối loạn hoạt động trao đổi chất của tôm.

      • Để phòng bệnh này cần chú ý:

          - Dùng thức ăn chất lượng tốt, có hàm lượng P: Ca là 1:1. Bổ sung một lượng vitamin tổng hợp. Không nuôi mật độ quá cao. Bảo đảm pH=7,5 – 8,5; độ cứng, độ kiềm thích hợp trong quá trình nuôi. Tránh nước thải nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt chảy vào ao nuôi. Tránh hiện tượng tảo nở hoa gây biến động điều kiện môi trường.
          - Nên bổ sung các chất dinh dưỡng cho tôm, nhất là giai đoạn tôm lột xác. Có thể dùng Phosphorous hữu cơ, đây là hỗn hợp cung cấp đủ các loại vitamin và axít amin thiết yếu, để tăng cường quá trình trao đổi chất và hấp thụ dưỡng chất, giúp tôm khỏe mạnh, đề kháng bệnh tật, mau lớn. Lượng dùng: 120ml/45-50kg thức ăn, dùng 3 ngày liên tục/tuần.
          - Bổ sung canxi - phospho và khoáng chất với tỉ lệ cân đối, giúp vỏ tôm mau cứng, chắc, bóng, đẹp sau khi lột. Lượng dùng 5ml/kg thức ăn mỗi ngày, ngưng dùng thuốc 1 ngày trước khi tôm lột vỏ.
          - Bổ sung các enzyme tiêu hóa và vi sinh vật hữu ích giúp tôm tiêu hóa tốt thức ăn và ngăn chặn các bệnh đường ruột. Lượng dùng: 1kg/250-500kg thức ăn, cho ăn thường xuyên.
          Vitamin C: Tăng cường sức đề kháng, chống stress, chống sốc. Lượng dùng: 2g/kg thức ăn.

Back to Top